Tâm Sự Cùng Đặng Xuân Xuyến Về Tử Vi Kiến Giải Pdf, Tủ Sách Của Bạn

*
*Đặng Xuân Xuyến
TrongTử Vi, khi luận bàn về ảnh hưởng của các sao, người luận giải thường lúng túngkhi gặp 2 sao Tuần – Triệt bởi lẽ quan điểm của cổ nhân về 2 sao này bất nhấtvề ngũ hành và cường độ, thời gian ảnh hưởng nên còn rất nhiều tranh cãi vànghi vấn khi luận giải lá số. Chính vì sự bất nhất đó mà người coi số phảilưỡng lự rất nhiều khi đưa ra lời kết luận trong nhiều trường hợp.
Dùsao thì đây cũng là hai sao đặc biệt quan trọng trong các sao của Tử Vi vìTriệt – Tuần không chỉ chi phối các cung mà còn chi phối các sao, biến tốtthành tương đối xấu, xấu thành bớt xấu… nên Triệt – Tuần cần được cân nhắccẩn trọng khi đưa ra lời luận giải.
Quanđiểm thứ hai cho rằng: Triệt – Tuần không mang hành cố định mà phụ thuộc vàohành của cung mà Triệt – Tuần án ngữ.
Trong 4 quan điểm trên thì phần nhiều ngườixem số chọn quan điểm thứ nhất cho Triệt hành Kim, Tuần hành Hỏa, sau đó làquan điểm thứ hai cho rằng Triệt – Tuần mang hành của cung án ngữ, còn quanđiểm thứ ba, thứ tư rất ít người chọn (nhất là quan điểm thứ tư).
Trongphạm vi bài viết này, người viết trình bày sơ lược một số điểm về Triệt – Tuầnmà người học Tử Vi cần lưu ý.
TuầnTriệt án ngữ hai cung và có cường độ ảnh hưởng lên hai cung khác nhau theonguyên tắc được ước lượng như sau:
NgườiDương Nam, Dương Nữ thì cung Dương bị ảnh hưởng hơn cung Âm, cụ thể cung Dươngchịu 70%, cung Âm chịu 30% cường độ.Trong Tử Vi, khi luận bàn về ảnh hưởng tác động của những sao, người luận giải thường lúng túng khi gặp 2 sao Tuần – Triệt bởi lẽ quan điểm của cổ nhân về 2 sao này bất nhất về ngũ hành và cường độ, thời hạn tác động ảnh hưởng nên còn rất nhiều tranh cãi và nghi vấn khi luận giải lá số. Chính vì sự bất nhất đó mà người coi số phải lưỡng lự rất nhiều khi đưa ra lời Kết luận trong nhiều trường hợp. TrongTử Vi, khi luận bàn về ảnh hưởng tác động của những sao, người luận giải thường lúng túngkhi gặp 2 sao Tuần – Triệt bởi lẽ quan điểm của cổ nhân về 2 sao này bất nhấtvề ngũ hành và cường độ, thời hạn ảnh hưởng tác động nên còn rất nhiều tranh cãi vànghi vấn khi luận giải lá số. Chính vì sự bất nhất đó mà người coi số phảilưỡng lự rất nhiều khi đưa ra lời Kết luận trong nhiều trường hợp. Dùsao thì đây cũng là hai sao đặc biệt quan trọng quan trọng trong những sao của Tử Vi vìTriệt – Tuần không chỉ chi phối những cung mà còn chi phối những sao, biến tốtthành tương đối xấu, xấu thành bớt xấu … nên Triệt – Tuần cần được cân nhắccẩn trọng khi đưa ra lời luận giải. Quanđiểm thứ hai cho rằng : Triệt – Tuần không mang hành cố định và thắt chặt mà nhờ vào vàohành của cung mà Triệt – Tuần án ngữ. Trong 4 quan điểm trên thì phần lớn ngườixem số chọn quan điểm thứ nhất cho Triệt hành Kim, Tuần hành Hỏa, sau đó làquan điểm thứ hai cho rằng Triệt – Tuần mang hành của cung án ngữ, còn quanđiểm thứ ba, thứ tư rất ít người chọn ( nhất là quan điểm thứ tư ). Trongphạm vi bài viết này, người viết trình diễn sơ lược một số ít điểm về Triệt – Tuầnmà người học Tử Vi cần chú ý quan tâm. TuầnTriệt án ngữ hai cung và có cường độ tác động ảnh hưởng lên hai cung khác nhau theonguyên tắc được ước đạt như sau : NgườiDương Nam, Dương Nữ thì cung Dương bị ảnh hưởng tác động hơn cung Âm, đơn cử cung Dươngchịu 70 %, cung Âm chịu 30 % cường độ .

Bạn đang xem: Tử vi kiến giải pdf

NgườiÂm Nam, Âm Nữ thì cung Âm bị ảnh hưởng nhiều hơn cung Dương, cụ thể ước lượngcung Âm chịu 70%, cung Dương chịu 30% cường độ.
Khibị ảnh hưởng mạnh thì ta thường nói bị đương đầu, bị ảnh hưởng yếu thì ta nóibị chận (chặn) đuôi.
Triệtảnh hưởng mạnh mẽ trong thời gian 30 năm đầu, tùy theo Cục mà có khác biệt (nhưThủy nhị cục thì 32 năm đầu), sau đó thì từ từ yếu đi nhưng không thể coì làkhông có ảnh hưởng. Tại các cung Kim, Triệt có tác động mạnh nhất.
Tuầnthì ngược lại, ảnh hưởng không đáng kể vào khoảng 30 năm đầu, nhưng sau 30 tuổisẽ mạnh dần lên nhưng không ảnh hưởng mạnh mẽ bằng ảnh hưởng của Triệt khiTriệt ở 30 năm đầu. Tại các cung Hỏa, Tuần có tác động mạnh nhất.
Trongtừng trường hợp trên cũng có biến động riêng, bởi quá trình thay đổi của TuầnTriệt là quá trình biến đổi: Tuần thì từ từ mạnh lên, Triệt thì từ từ giảmxuống. Như vậy trong trường hợp nếu Tuần chặn đuôi thì nhẹ nhất vào lúc 1 tuổivà mạnh nhất vào khoảng 30 tuổi, còn Triệt đương đầu thì mạnh nhất vào lúc 1tuổi và giảm dần ảnh hưởng theo thời gian, đến ngoài 30 tuổi thì ảnh hưởng củaTriệt giảm đáng kể.
Thôngthường khi đóng tại cung nào thì Tuần – Triệt sẽ gây trục trặc cho cung đó bấtkể là đương đầu hay chặn đuôi, trừ khi đóng tại cung Vô chính Diệu trong trườnghợp không có hung tinh đắc địa hoặc tại cung Tật Ách thì lại tốt. Chưa cần coicác sao trong cung, chỉ cần căn cứ vào sự án ngữ của Triệt – Tuần người coi sốcũng có thể nêu sơ lược được vài điểm trong cuộc sống của đương số.
MỆNH:Tuần – Triệt đóng tại Mệnh thì thuở nhỏ cực khổ gian nan (nhưng nếu gặp chínhtinh lạc hãm thì sẽ đỡ hơn), Tuần – Triệt đóng tại Thân (cung an Thân) thì khilập nghiệp sẽ gặp khó khăn ban đầu, nhưng nếu chặn đuôi thì đỡ hơn. Thân Mệnhđồng cung gặp Tuần – Triệt đương đầu thì nếu trước 30 tuổi đã có sự nghiệp thìtất sự nghiệp đó bị gãy đổ rồi mới bắt đầu lại trong giai đoạn lập thân.
Nhìnchung khi Tuần – Triệt đóng tại Mệnh (Thân) thì đương số là người chật vậttrong cuộc sống (hoàn cảnh sống không may mắn, công lao được hưởng không xứngđáng…), hoặc lúc sinh ra mình cha mẹ thường làm ăn vất vả, nghèo hèn (nhất làlá số có Tuần – Triệt liên cung tại Mệnh – Phụ Mẫu). Đồng thời đây cũng là mẫungười lười biếng, kém thông minh, yếm thế, thiếu tự tin, không có ý chí vươnlên trong cuộc sống… nếu không được nhiều cát tinh, văn tinh hội chiếu vềMệnh (Thân) hóa giải.
QUAN:Tuần Triệt đóng tại Quan thì gây trục trặc cho quan trường, nghề nghiệp như lậnđận, hay phải thay đổi, không bền vững, thăng giáng thất thường… Tùy theo bịchặn đuôi hay đương đầu và gặp Tuần hay Triệt mà lận đận nhiều hay ít.
Vìquan trường có ý nghĩa nổi bật trong giai đoạn lập thân nên cần chú ý phân biệtgiữa Tuần và Triệt vì Tuần có tác dụng mạnh hơn về hậu vận còn Triệt chỉ ảnhhưởng mạnh mẽ giai đoạn trước 30 tuổi nên khi cung Quan gặp Triệt sẽ đỡ hơn gặpTuần khá nhiều.
TÀIBẠCH: Tuần – Triệt đóng tại cung Tài thì tiền bạc tụ tán, lúc có lúc không (trừkhi vào đại vận tốt) và thường bị gặp khó khăn khi kiếm tiền. Cho dù sự hội tụcủa các sao thế nào (ngoại trừ trường hợp cung Tài vô chính diệu, được NhậtNguyệt sáng sủa chiếu về) thì Tuần – Triệt đóng tại cung Tài cũng khẳng địnhđương số không thể giàu có lớn được, nhất là khi cung tài bị Tuần án ngữ.
THIÊNDI: Tuần – Triệt đóng tại cung Thiên Di thì đương số ra ngoài thường không đượclợi, tuy nhiên nếu ly hương thì lại tốt hơn nhiều.
ĐIỀNTRẠCH: Tuần – Triệt đóng tại cung Điền thì không được hưởng di sản của cha mẹđể lại, phải tự lập và thường bị trục trặc trong vấn đề mua bán điền sản. Cũngnhư cung Tài, nếu tại cung Điền có Tuần Triệt án ngữ thì chắc chắn đương sốkhông thể có nhiều điền sản lớn được, ngoại trừ trường hợp cung Điền vô chínhdiệu được Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu về.
PHÚCĐỨC: Tuần – Triệt đóng tại cung Phúc thì khiến họ hàng ly tán, không ở gầnnhau, thường phải ly hương
PHUTHÊ: Tuần – Triệt đóng tại cung Phu Thê thì gây trục trặc cho tình duyên hônnhân như tình đầu tan vỡ, lập gia đình trễ… Nếu lập gia đình sớm thì gia đạobất hòa dễ đưa đến chia ly. Tuần – Triệt đóng tại cung Phu Thê cũng là yếu tốđưa đến số phận không chồng không vợ nếu cung Phúc vô chính diệu và hội tụnhiều sao xấu.
CungPhu Thê xấu xa mờ ám thì nên gặp Tuần hơn là gặp Triệt vì nếu gặp Tuần thì vềsau gia đạo dễ hạnh phúc hơn gặp Triệt, còn cung Phu Thê đẹp đẽ nếu gặp Triệtthì tuy có bị trục trặc ban đầu nhưng về sau thì vợ chồng cũng sống được vớinhau đến đầu bạc răng long …
NÔ BỘC: Tuần – Triệt đóng tại cung Nô thì bạnbè, người giúp việc lúc tụ lúc tán, không bền, khó kiếm được người giúp việctrung thành, cũng khó có được những người bạn tri âm tri kỷ.
TỬTỨC: Tuần – Triệt đóng tại cung Tử thì gây trục trặc cho đương số về vấn đề concái như không có con, muộn có con, hoặc sinh con đầu lòng khó nuôi, hoặc conkhông hợp với cha mẹ…
HUYNHĐỆ: Tuần – Triệt đóng tại cung Huynh Đệ thì anh (chị) trưởng nếu không đoản thọthì cũng là người cùng khổ cô đơn, hoặc anh chị em không sống gần nhau, hoặcbất hòa, không giúp được nhau mà còn hại nhau…
TẬTÁCH: Tuần – Triệt đóng tại cung Tật Ách bất kể là đương đầu hay chặn đuôi thìđương số suốt đời mạnh khoẻ, ít bệnh tật, ít gặp tai họa, nếu có tai hoạ cũngtránh được họa lớn… Trừ khi có sao kỵ Tuần – Triệt như Thiên Tướng, TướngQuân thì nếu Đại vận xấu sẽ dễ đưa đến cái chết bất ngờ nhanh chóng.
PHỤMẪU: Tuần Triệt đóng tại cung Phụ Mẫu thì chắc chắn đương số không hợp với chahay mẹ, hoặc dễ sớm xa cách cha mẹ do: Hoặc cha (mẹ) mất sớm, hoặc cha mẹ lyhôn, hoặc làm con nuôi nhà khác… Vì Phụ Mẫu có ảnh hưởng trong giai đoạnthiếu niên nên gặp Triệt có khác biệt khi gặp Tuần vì lúc đó Triệt đang mạnh mẽcòn Tuần thì sự ảnh hưởng hầu như không đáng kể.
HẠN:Tuần Triệt đóng tại cung hạn thì phải có khó khăn trong hạn đó, nhưng cần phảixét kỹ về thời gian và tỷ lệ ảnh hưởng, nhất là khi Tuần, Triệt đồng cung thìphải nhớ ảnh hưởng tăng gấp đôi và kéo dài hơn chứ không thể suy luận theo quanđiểm là Tuần và Triệt tháo gỡ cho nhau trong trường hợp này.
Theolý thuyết của Tử Vi thì hai sao Tuần, Triệt sẽ làm thay đổi giá trị ảnh hưởngcủa các sao đồng cung mà Tuần, Triệt án ngữ. Nhưng cũng cần lưu ý rằng: Tuần -Triệt không làm thay đổi tính chất các sao, mà chỉ làm tăng lên hoặc giảm điảnh hưởng của các sao. Thực chất Tuần – Triệt chỉ làm thay đổi cường độ hànhkhí của sao, sự sáng tối của sao tức là thay đổi tính đắc hãm của sao. Tuynhiên cho dù sao hãm địa có được sáng lại do ảnh hưởng của Tuần – Triệt thìcũng không được toàn vẹn như một sao bản chất là sáng sủa và ngược lại một saobị tối đi do ảnh hưởng của Tuần – Triệt cũng không tối tăm như một sao bản chấtlà tối hãm.
Sựảnh hưởng của Tuần, Triệt như thế nào tới các sao ở các cung xung chiếu, tamhợp chiếu vẫn là tranh cãi chưa có lời kết của các tác giả, các nhà nghiên cứuTử Vi.
Cóquan điểm cho rằng Tuần, Triệt chỉ làm thay đổi sự sáng, tối của các sao đồngcung chứ không đủ sức ảnh hưởng tới các sao ở các cung xung chiếu hoặc tam hợpchiếu, như thế là không tưởng, phi lý (đại diện là tác giả Nguyễn Phát Lộc).Còn quan điểm thứ 2 (đại diện là tác giả Việt Viêm Tử) thì rộng hơn, cho rằnghai sao này còn ảnh hưởng tới cả các cung trong thế hợp chiếu và mức độ ảnhhưởng của Triệt-Tuần còn phụ thuộc vào tuổi Âm hay Dương của đương số. Quanđiểm này không nhận được sự ủng hộ của một số tác giả, tiêu biểu là ông NguyễnPhát Lộc nhưng lại nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà nghiên cứu, “thầy Tử Vi”,chẳng hạn như nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm (Ông là nhà nghiên cứu, cũng là ngườihành nghề coi lá số Tử Vi) nhận xét: Triệt – Tuần là 2 sao đặc biệt trong hệthống các sao của Tử Vi, nhưng vẫn tuân thủ theo nguyên tắc: Ảnh hưởng tới cáccung khác ngoài cung án ngữ và cũng chịu ảnh hưởng lại của các sao, các cung màTriệt – Tuần trấn thủ.
Quanhững tranh luận của các tác giả, và từ thực tiễn kinh nghiệm của các nhànghiên cứu về Tử Vi, đặc biệt là kinh nghiệm của những người hành nghề coi lásố Tử Vi.. thì Triệt – Tuần không những ảnh hưởng mạnh tới các sao ở 2 cung ánngữ mà còn ảnh hưởng tới các sao ở cung xung chiếu, tam hợp chiếu. Tuy nhiên,sự ảnh hưởng đó chỉ có ảnh hưởng gián tiếp chứ không trực tiếp như ở hai cungán ngữ.
Cũngcần lưu ý thêm rằng: Sao tại cung bị Tuần – Triệt án ngữ bị thay đổi tính chấtnên khi chiếu về cung khác cũng khác khi không bị Tuần – Triệt án ngữ. Vì thếkhi luận giải phải gia giảm sự tốt, xấu của sao tùy theo sự án ngữ của Tuần hayTriệt và Triệt – Tuần ở thế đương đầu hay chặn đuôi.
Sựảnh hưởng của Tuần, Triệt tới các tinh đẩu cũng không giống nhau. Thường thìcác chính tinh bị ảnh hưởng mạnh hơn các phụ tinh khi gặp Tuần – Triệt, trongđó Sát – Phá – Liêm – Tham bị ảnh hưởng mạnh nhất.
Vềtính chất thì hung sát bại tinh (như Sát, Phá, Liêm, Tham, Không, Kiếp, Kình,Đà, Hỏa Linh, Kiếp Sát, Thiên Không, Kiếp Sát…), tài tinh (Vũ Khúc, ThiênPhủ, Lộc Tồn, Hóa Lộc), quí tinh, quyền tinh (Thiên Tướng, Hóa Quyền, QuốcẤn…), đào hoa tinh hay dâm tinh (Hồng, Đào, Riêu, Thai…) bị ảnh hưởng mạnhmẽ hơn các tinh đẩu khác như phúc thiện tinh (Quang Quí, Quan Phúc…), trợtinh (Tả Hữu)…lục bại tinh (Song Hao, Tang Hổ, Khốc Hư)
Xétvề phương diện Ngũ hành thì nhìn chung hành Kim, Hỏa và Mộc bị ảnh hưởng nặngnhất, hành Mộc bị ảnh hưởng của Triệt hơn Tuần (vì Triệt (Kim) khắc Mộc trongkhi đó Mộc sinh (Tuần) Hỏa) và hành Kim chịu ảnh hưởng của Tuần hơn Triệt (vìTuần (Hỏa )khắc Kim trong khi đó Triệt (Kim) và Kim đồng hành), hành Thủy ít bịảnh hưởng hơn (vì Triệt (Kim) sinh Thủy và Thủy khắc (Hỏa) Tuần), hành Thổ bịảnh hưởng ít nhất (vì Tuần (Hỏa) sinh Thổ và Thổ sinh (Kim) Triệt).
1.Chính tinh hoặc hung tinh đắc địa tối kỵ gặp Tuần – Triệt vì gặp Tuần – Triệt làmcho các tinh đẩu bị giảm hết ý nghĩa tốt đẹp hoặc đôi khi trở thành hãm địa.Tuy nhiên, trong một số trường hợp, rất cần có Tuần Triệt án ngữ, chẳng hạn nhưcung Vô chính Diệu hoặc Chính Diệu tọa thủ lạc hãm, xấu xa, ví như trường hợpLiêm – Tham hãm địa tại Tỵ, Hợi nếu gặp Tuần – Triệt án ngữ lại trở nên tốtđẹp, trường hợp này còn được gọi là Phản vi kỳ cách hay Bộ Âm Duơng lạc hãm rấtcần gặp Tuần, Triệt để trở thành sáng sủa, thông minh học giỏi. (Trường hợp nàynếu thêm Hóa Kỵ đắc địa đồng cung thì thật hoàn mỹ.)
2.Chính tinh sáng sủa hợp Mệnh thì không nên gặp Tuần – Triệt vì sẽ đưa đến phácách nặng, ví dụ như cung sinh sao, sao sinh Mệnh mà gặp Tuần, Triệt thì càngxấu vì sao sinh Mệnh khiến Mệnh tốt lên hẳn mà lại bị Tuần, Triệt phá hỏng.Trong trường hợp này nếu Mệnh không hợp với sao thì gặp Tuần, Triệt cũng đỡ xấuhơn trường hợp trên.
Chínhtinh lạc hãm khắc Mệnh thì lại cần được Tuần – Triệt án ngữ, trường hợp này lạihay hơn là được chính tinh lạc hãm hợp Mệnh gặp Tuần, Triệt. Nói chung là nếucàng xấu về vị trí (bị hãm) và tương quan Ngũ hành (bị khắc) thì gặp Tuần,Triệt càng tốt, hễ càng tốt về vị trí và tương quan Ngũ hành thì gặp Tuần,Triệt càng xấu.

NgườiÂm Nam, Âm Nữ thì cung Âm bị ảnh hưởng nhiều hơn cung Dương, cụ thể ước lượngcung Âm chịu 70%, cung Dương chịu 30% cường độ.Khibị ảnh hưởng mạnh thì ta thường nói bị đương đầu, bị ảnh hưởng yếu thì ta nóibị chận (chặn) đuôi.Triệtảnh hưởng mạnh mẽ trong thời gian 30 năm đầu, tùy theo Cục mà có khác biệt (nhưThủy nhị cục thì 32 năm đầu), sau đó thì từ từ yếu đi nhưng không thể coì làkhông có ảnh hưởng. Tại các cung Kim, Triệt có tác động mạnh nhất.Tuầnthì ngược lại, ảnh hưởng không đáng kể vào khoảng 30 năm đầu, nhưng sau 30 tuổisẽ mạnh dần lên nhưng không ảnh hưởng mạnh mẽ bằng ảnh hưởng của Triệt khiTriệt ở 30 năm đầu. Tại các cung Hỏa, Tuần có tác động mạnh nhất.Trongtừng trường hợp trên cũng có biến động riêng, bởi quá trình thay đổi của TuầnTriệt là quá trình biến đổi: Tuần thì từ từ mạnh lên, Triệt thì từ từ giảmxuống. Như vậy trong trường hợp nếu Tuần chặn đuôi thì nhẹ nhất vào lúc 1 tuổivà mạnh nhất vào khoảng 30 tuổi, còn Triệt đương đầu thì mạnh nhất vào lúc 1tuổi và giảm dần ảnh hưởng theo thời gian, đến ngoài 30 tuổi thì ảnh hưởng củaTriệt giảm đáng kể.Thôngthường khi đóng tại cung nào thì Tuần – Triệt sẽ gây trục trặc cho cung đó bấtkể là đương đầu hay chặn đuôi, trừ khi đóng tại cung Vô chính Diệu trong trườnghợp không có hung tinh đắc địa hoặc tại cung Tật Ách thì lại tốt. Chưa cần coicác sao trong cung, chỉ cần căn cứ vào sự án ngữ của Triệt – Tuần người coi sốcũng có thể nêu sơ lược được vài điểm trong cuộc sống của đương số.MỆNH:Tuần – Triệt đóng tại Mệnh thì thuở nhỏ cực khổ gian nan (nhưng nếu gặp chínhtinh lạc hãm thì sẽ đỡ hơn), Tuần – Triệt đóng tại Thân (cung an Thân) thì khilập nghiệp sẽ gặp khó khăn ban đầu, nhưng nếu chặn đuôi thì đỡ hơn. Thân Mệnhđồng cung gặp Tuần – Triệt đương đầu thì nếu trước 30 tuổi đã có sự nghiệp thìtất sự nghiệp đó bị gãy đổ rồi mới bắt đầu lại trong giai đoạn lập thân.Nhìnchung khi Tuần – Triệt đóng tại Mệnh (Thân) thì đương số là người chật vậttrong cuộc sống (hoàn cảnh sống không may mắn, công lao được hưởng không xứngđáng…), hoặc lúc sinh ra mình cha mẹ thường làm ăn vất vả, nghèo hèn (nhất làlá số có Tuần – Triệt liên cung tại Mệnh – Phụ Mẫu). Đồng thời đây cũng là mẫungười lười biếng, kém thông minh, yếm thế, thiếu tự tin, không có ý chí vươnlên trong cuộc sống… nếu không được nhiều cát tinh, văn tinh hội chiếu vềMệnh (Thân) hóa giải.QUAN:Tuần Triệt đóng tại Quan thì gây trục trặc cho quan trường, nghề nghiệp như lậnđận, hay phải thay đổi, không bền vững, thăng giáng thất thường… Tùy theo bịchặn đuôi hay đương đầu và gặp Tuần hay Triệt mà lận đận nhiều hay ít.Vìquan trường có ý nghĩa nổi bật trong giai đoạn lập thân nên cần chú ý phân biệtgiữa Tuần và Triệt vì Tuần có tác dụng mạnh hơn về hậu vận còn Triệt chỉ ảnhhưởng mạnh mẽ giai đoạn trước 30 tuổi nên khi cung Quan gặp Triệt sẽ đỡ hơn gặpTuần khá nhiều.TÀIBẠCH: Tuần – Triệt đóng tại cung Tài thì tiền bạc tụ tán, lúc có lúc không (trừkhi vào đại vận tốt) và thường bị gặp khó khăn khi kiếm tiền. Cho dù sự hội tụcủa các sao thế nào (ngoại trừ trường hợp cung Tài vô chính diệu, được NhậtNguyệt sáng sủa chiếu về) thì Tuần – Triệt đóng tại cung Tài cũng khẳng địnhđương số không thể giàu có lớn được, nhất là khi cung tài bị Tuần án ngữ.THIÊNDI: Tuần – Triệt đóng tại cung Thiên Di thì đương số ra ngoài thường không đượclợi, tuy nhiên nếu ly hương thì lại tốt hơn nhiều.ĐIỀNTRẠCH: Tuần – Triệt đóng tại cung Điền thì không được hưởng di sản của cha mẹđể lại, phải tự lập và thường bị trục trặc trong vấn đề mua bán điền sản. Cũngnhư cung Tài, nếu tại cung Điền có Tuần Triệt án ngữ thì chắc chắn đương sốkhông thể có nhiều điền sản lớn được, ngoại trừ trường hợp cung Điền vô chínhdiệu được Nhật Nguyệt sáng sủa chiếu về.PHÚCĐỨC: Tuần – Triệt đóng tại cung Phúc thì khiến họ hàng ly tán, không ở gầnnhau, thường phải ly hươngPHUTHÊ: Tuần – Triệt đóng tại cung Phu Thê thì gây trục trặc cho tình duyên hônnhân như tình đầu tan vỡ, lập gia đình trễ… Nếu lập gia đình sớm thì gia đạobất hòa dễ đưa đến chia ly. Tuần – Triệt đóng tại cung Phu Thê cũng là yếu tốđưa đến số phận không chồng không vợ nếu cung Phúc vô chính diệu và hội tụnhiều sao xấu.CungPhu Thê xấu xa mờ ám thì nên gặp Tuần hơn là gặp Triệt vì nếu gặp Tuần thì vềsau gia đạo dễ hạnh phúc hơn gặp Triệt, còn cung Phu Thê đẹp đẽ nếu gặp Triệtthì tuy có bị trục trặc ban đầu nhưng về sau thì vợ chồng cũng sống được vớinhau đến đầu bạc răng long …NÔ BỘC: Tuần – Triệt đóng tại cung Nô thì bạnbè, người giúp việc lúc tụ lúc tán, không bền, khó kiếm được người giúp việctrung thành, cũng khó có được những người bạn tri âm tri kỷ.TỬTỨC: Tuần – Triệt đóng tại cung Tử thì gây trục trặc cho đương số về vấn đề concái như không có con, muộn có con, hoặc sinh con đầu lòng khó nuôi, hoặc conkhông hợp với cha mẹ…HUYNHĐỆ: Tuần – Triệt đóng tại cung Huynh Đệ thì anh (chị) trưởng nếu không đoản thọthì cũng là người cùng khổ cô đơn, hoặc anh chị em không sống gần nhau, hoặcbất hòa, không giúp được nhau mà còn hại nhau…TẬTÁCH: Tuần – Triệt đóng tại cung Tật Ách bất kể là đương đầu hay chặn đuôi thìđương số suốt đời mạnh khoẻ, ít bệnh tật, ít gặp tai họa, nếu có tai hoạ cũngtránh được họa lớn… Trừ khi có sao kỵ Tuần – Triệt như Thiên Tướng, TướngQuân thì nếu Đại vận xấu sẽ dễ đưa đến cái chết bất ngờ nhanh chóng.PHỤMẪU: Tuần Triệt đóng tại cung Phụ Mẫu thì chắc chắn đương số không hợp với chahay mẹ, hoặc dễ sớm xa cách cha mẹ do: Hoặc cha (mẹ) mất sớm, hoặc cha mẹ lyhôn, hoặc làm con nuôi nhà khác… Vì Phụ Mẫu có ảnh hưởng trong giai đoạnthiếu niên nên gặp Triệt có khác biệt khi gặp Tuần vì lúc đó Triệt đang mạnh mẽcòn Tuần thì sự ảnh hưởng hầu như không đáng kể.HẠN:Tuần Triệt đóng tại cung hạn thì phải có khó khăn trong hạn đó, nhưng cần phảixét kỹ về thời gian và tỷ lệ ảnh hưởng, nhất là khi Tuần, Triệt đồng cung thìphải nhớ ảnh hưởng tăng gấp đôi và kéo dài hơn chứ không thể suy luận theo quanđiểm là Tuần và Triệt tháo gỡ cho nhau trong trường hợp này.Theolý thuyết của Tử Vi thì hai sao Tuần, Triệt sẽ làm thay đổi giá trị ảnh hưởngcủa các sao đồng cung mà Tuần, Triệt án ngữ. Nhưng cũng cần lưu ý rằng: Tuần -Triệt không làm thay đổi tính chất các sao, mà chỉ làm tăng lên hoặc giảm điảnh hưởng của các sao. Thực chất Tuần – Triệt chỉ làm thay đổi cường độ hànhkhí của sao, sự sáng tối của sao tức là thay đổi tính đắc hãm của sao. Tuynhiên cho dù sao hãm địa có được sáng lại do ảnh hưởng của Tuần – Triệt thìcũng không được toàn vẹn như một sao bản chất là sáng sủa và ngược lại một saobị tối đi do ảnh hưởng của Tuần – Triệt cũng không tối tăm như một sao bản chấtlà tối hãm.Sựảnh hưởng của Tuần, Triệt như thế nào tới các sao ở các cung xung chiếu, tamhợp chiếu vẫn là tranh cãi chưa có lời kết của các tác giả, các nhà nghiên cứuTử Vi.Cóquan điểm cho rằng Tuần, Triệt chỉ làm thay đổi sự sáng, tối của các sao đồngcung chứ không đủ sức ảnh hưởng tới các sao ở các cung xung chiếu hoặc tam hợpchiếu, như thế là không tưởng, phi lý (đại diện là tác giả Nguyễn Phát Lộc).Còn quan điểm thứ 2 (đại diện là tác giả Việt Viêm Tử) thì rộng hơn, cho rằnghai sao này còn ảnh hưởng tới cả các cung trong thế hợp chiếu và mức độ ảnhhưởng của Triệt-Tuần còn phụ thuộc vào tuổi Âm hay Dương của đương số. Quanđiểm này không nhận được sự ủng hộ của một số tác giả, tiêu biểu là ông NguyễnPhát Lộc nhưng lại nhận được sự ủng hộ của nhiều nhà nghiên cứu, “thầy Tử Vi”,chẳng hạn như nhà thơ Nguyễn Thanh Lâm (Ông là nhà nghiên cứu, cũng là ngườihành nghề coi lá số Tử Vi) nhận xét: Triệt – Tuần là 2 sao đặc biệt trong hệthống các sao của Tử Vi, nhưng vẫn tuân thủ theo nguyên tắc: Ảnh hưởng tới cáccung khác ngoài cung án ngữ và cũng chịu ảnh hưởng lại của các sao, các cung màTriệt – Tuần trấn thủ.Quanhững tranh luận của các tác giả, và từ thực tiễn kinh nghiệm của các nhànghiên cứu về Tử Vi, đặc biệt là kinh nghiệm của những người hành nghề coi lásố Tử Vi.. thì Triệt – Tuần không những ảnh hưởng mạnh tới các sao ở 2 cung ánngữ mà còn ảnh hưởng tới các sao ở cung xung chiếu, tam hợp chiếu. Tuy nhiên,sự ảnh hưởng đó chỉ có ảnh hưởng gián tiếp chứ không trực tiếp như ở hai cungán ngữ.Cũngcần lưu ý thêm rằng: Sao tại cung bị Tuần – Triệt án ngữ bị thay đổi tính chấtnên khi chiếu về cung khác cũng khác khi không bị Tuần – Triệt án ngữ. Vì thếkhi luận giải phải gia giảm sự tốt, xấu của sao tùy theo sự án ngữ của Tuần hayTriệt và Triệt – Tuần ở thế đương đầu hay chặn đuôi.Sựảnh hưởng của Tuần, Triệt tới các tinh đẩu cũng không giống nhau. Thường thìcác chính tinh bị ảnh hưởng mạnh hơn các phụ tinh khi gặp Tuần – Triệt, trongđó Sát – Phá – Liêm – Tham bị ảnh hưởng mạnh nhất.Vềtính chất thì hung sát bại tinh (như Sát, Phá, Liêm, Tham, Không, Kiếp, Kình,Đà, Hỏa Linh, Kiếp Sát, Thiên Không, Kiếp Sát…), tài tinh (Vũ Khúc, ThiênPhủ, Lộc Tồn, Hóa Lộc), quí tinh, quyền tinh (Thiên Tướng, Hóa Quyền, QuốcẤn…), đào hoa tinh hay dâm tinh (Hồng, Đào, Riêu, Thai…) bị ảnh hưởng mạnhmẽ hơn các tinh đẩu khác như phúc thiện tinh (Quang Quí, Quan Phúc…), trợtinh (Tả Hữu)…lục bại tinh (Song Hao, Tang Hổ, Khốc Hư)Xétvề phương diện Ngũ hành thì nhìn chung hành Kim, Hỏa và Mộc bị ảnh hưởng nặngnhất, hành Mộc bị ảnh hưởng của Triệt hơn Tuần (vì Triệt (Kim) khắc Mộc trongkhi đó Mộc sinh (Tuần) Hỏa) và hành Kim chịu ảnh hưởng của Tuần hơn Triệt (vìTuần (Hỏa )khắc Kim trong khi đó Triệt (Kim) và Kim đồng hành), hành Thủy ít bịảnh hưởng hơn (vì Triệt (Kim) sinh Thủy và Thủy khắc (Hỏa) Tuần), hành Thổ bịảnh hưởng ít nhất (vì Tuần (Hỏa) sinh Thổ và Thổ sinh (Kim) Triệt).1.Chính tinh hoặc hung tinh đắc địa tối kỵ gặp Tuần – Triệt vì gặp Tuần – Triệt làmcho các tinh đẩu bị giảm hết ý nghĩa tốt đẹp hoặc đôi khi trở thành hãm địa.Tuy nhiên, trong một số trường hợp, rất cần có Tuần Triệt án ngữ, chẳng hạn nhưcung Vô chính Diệu hoặc Chính Diệu tọa thủ lạc hãm, xấu xa, ví như trường hợpLiêm – Tham hãm địa tại Tỵ, Hợi nếu gặp Tuần – Triệt án ngữ lại trở nên tốtđẹp, trường hợp này còn được gọi là Phản vi kỳ cách hay Bộ Âm Duơng lạc hãm rấtcần gặp Tuần, Triệt để trở thành sáng sủa, thông minh học giỏi. (Trường hợp nàynếu thêm Hóa Kỵ đắc địa đồng cung thì thật hoàn mỹ.)2.Chính tinh sáng sủa hợp Mệnh thì không nên gặp Tuần – Triệt vì sẽ đưa đến phácách nặng, ví dụ như cung sinh sao, sao sinh Mệnh mà gặp Tuần, Triệt thì càngxấu vì sao sinh Mệnh khiến Mệnh tốt lên hẳn mà lại bị Tuần, Triệt phá hỏng.Trong trường hợp này nếu Mệnh không hợp với sao thì gặp Tuần, Triệt cũng đỡ xấuhơn trường hợp trên.Chínhtinh lạc hãm khắc Mệnh thì lại cần được Tuần – Triệt án ngữ, trường hợp này lạihay hơn là được chính tinh lạc hãm hợp Mệnh gặp Tuần, Triệt. Nói chung là nếucàng xấu về vị trí (bị hãm) và tương quan Ngũ hành (bị khắc) thì gặp Tuần,Triệt càng tốt, hễ càng tốt về vị trí và tương quan Ngũ hành thì gặp Tuần,Triệt càng xấu.

Xem thêm: Quy Hoạch 1/500 Là Gì ?




Xem thêm: Cách Xây Nhà 7 Vững Chắc – Hướng Dẫn Xếp Nhà Hall 7 (Th7)

4.Thiên Phủ kỵ gặp Tuần hơn gặp Triệt, vì gặp Tuần ví như kho trống không, trongkhi gặp Triệt thì chỉ bị hao hụt. Thiên Khôi kỵ gặp Triệt hơn gặp Tuần nhưngcần phối hợp các yếu tố khác khi luận đoán sự tốt xấu của cung đó.
5.Bộ Cự Nhật ở Dần gặp Tuần, Triệt không sợ, vì bản thân Thái Dương miếu vượng ítngại Tuần, Triệt, trong khi đó Cự Môn vượng lại rất cần gặp Tuần, Triệt để choCự Môn được ánh sáng của Thái Dương chiếu vào mà tỏa sáng (Tuần Triệt như sấmsét làm vỡ đá ra).
BộNhật Lương gặp Tuần, Triệt cũng không đáng ngại lắm, tuy nhiên khi gặp Tuần,Triệt rất cần có Tả Hữu Xương Khúc phù trì thì mới vượt qua được sự ngăn cản pháhoại của Tuần, Triệt.
BộÂn Quang Thiên Quý đồng cung (Sửu, Mùi) chiếu về Mệnh hoặc thủ Mệnh thì Tuần,Triệt không còn tác dụng nữa, chỉ là sự cản trở nho nhỏ không đáng kể.
6.Tuần, Triệt đứng bất cứ đâu nếu bản Mệnh là hành kim thì không đáng ngại (hànhHoả cũng đỡ hơn, nếu Triệt lâm Hỏa địa). Ví dụ mệnh gặp Thiên Tướng + TuầnTriệt án ngữ rất xấu xa mờ ám chủ tai nạn hình thương nhưng nếu bản Mệnh thuộcKim thì không đáng ngại những nguy hiểm do Tuần, Triệt gây ra.
7.Tuần, Triệt giải họa Không Kiếp hãm rất mạnh, họa tuy có xảy ra nhưng cũng quađược. Triệt tại bản cung thì không sợ tai họa do Không Kiếp chiếu về. Tuần cũngcó tác dụng như vậy nhưng yếu hơn.
8.Mệnh Tuần hay Triệt thì khi đến đại hạn gặp Tuần hay Triệt sẽ tháo dỡ ảnh hưởngcủa Tuần hay Triệt.
Tuần,Triệt đồng cung tại tiểu hạn gặp Lưu Tuần, Triệt thì ảnh hưởng của Tuần, Triệtđồng cung sẽ giảm đi.
Triệttại tiểu hạn gặp Lưu Triệt thì ảnh hưởng của Triệt tăng lên, Tuần tại tiểu hạngặp Lưu Tuần thì ảnh hưởng của Tuần giảm đi.
Cónghĩa: Cung Mệnh có Triệt án ngữ, cung Thân cũng ngộ Tuần thì không nên cóchính diệu mới được xứng ý toại lòng, về già mới được an nhàn, sung sướng vàtăng thêm tuổi thọ.
Cónghĩa: Mệnh có Tuần án ngữ, Thân có Triệt trấn thủ, lại vô chính diệu, rất mừnggặp được văn tinh như Khôi, Việt, Xương, Khúc, Long, Phượng, gặp như vậy làngười có văn tài, học vấn và khi đứng tuổi tất sẽ được an nhàn, phú quý.
Cónghĩa: Mệnh có Tuần, Thân có Triệt án ngữ, rất cần có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lươngsáng sủa, tốt đẹp hội họp thì cuộc đời mới được xứng ý toại lòng, nhất là khivề già mới được an nhàn, sung sướng.
Cónghĩa: Cung Phúc đức vô chính diệu rất cần có sao Tuần án ngữ nhưng lại rất kỵsao Triệt trấn đóng.
Cónghĩa: Cung Phúc đức cư tại Tý, có các sao Đồng, Nguyệt, Kiếp, Tử gặp Tuần,Triệt thì đương số là người có học nhưng bất thành danh và là người bất chính,thường là người đa hư tiểu thực, nghèo hèn và chết non.
Cónghĩa: Cung Thân cư Phúc vô chính diệu mà gặp các sao Kiếp, Kình, Triệt, Sátthì rất lo ngại. Nhưng nếu gặp được Đà La, Tuần lại hay, ví như hai vị cứu khổphò nguy, giải tỏa được các tai biến.
Cónghĩa: Tử Phủ lâm Mệnh tại Dần, Thân là 2 sao giải cứu được hung nguy khi đáonhị hạn. Nhưng nếu bị Tuần Không án ngữ, ví như 2 ông vua bị mất hết quyền hànhnên không giảm thiểu được tai kiếp khi hạn ngộ sát tinh, cũng như trường hợp TửVi đóng ở cung Tý vậy.
Cónghĩa: Cung Mệnh dù có tứ sát, tứ hung, lục bại đi nữa, nhưng nếu được Triệt ánngữ tại bản cung cũng không e sợ lũ sát tinh hoành hành vì sao Triệt đủ ảnhhưởng khắc chế được mọi hung nguy.
-Thân cư Thê vị, Tuần Triệt lai xâm, thiếu niên ai lệ nãi thất tình. Nhược giacát tú, lương duyên mãn kiếp dữ phụ nhân.
Cónghĩa: Thân cư Thê mà bị Tuần, Triệt xâm phạm tất là người tuổi thiếu niên bịtình phụ mà nước mắt buồn rơi khi nhớ tới người xưa. Nếu gia hội cát tinh cũngđược mãn kiếp xum vầy với người góa phụ.
Cónghĩa: Cung Mệnh an tại Tý, 2 sao Tử Vi hay Cự Môn nếu hội với các sao Kiếp,Kình, Suy, Triệt là người phải chết bởi tai nạn nhưng khi chết rồi thể xác vẫnphải bị mổ xẻ.
-Thân cư Quan, kiến Triệt Tuần Kiếp Kỵ nam nhân phong vân vị tế, hựu phùng cátdiệu, vũ lộ thừa ân, khả đãi vãn niên dĩ hậu.
Cónghĩa: Nam nhân có Thân cư Quan, nếu gặp Triệt, Tuần, Kiếp, Kỵ đồng cung, tấtphải lận đận, bôn ba thủa thiếu thời vì không gặp thời cơ. Nếu như được cáttinh củng chiếu, cũng phải đợi tới vãn niên mới được hưởng phúc lộc và tạothành cơ nghiệp.
Cónghĩa: Thiên tướng nếu hội họp đầy đủ với 2 loại sao là sắc (Đào, Hồng, Hỷ) vàKhông (Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không) là người ví như kẻ lạc giữa bụitrần nhơ nhuốc mà tâm tư trong sáng, thường có duyên với cảnh tu hành.
Cónghĩa: Thiên Phủ, Thiên Tướng là quý tinh, cư Mệnh rất đẹp, nếu độc thủ cũngkhông đáng lo ngại lắm khi gặp lũ Kình, Đà, Hỏa, Linh vì tính dung hòa của 2quý tinh này. Nhưng nếu Phủ, Tướng ở cung âm, gặp Tuần, Triệt (Thiên Không, ĐịaKhông cũng vậy) thì cách đẹp bị phá hết, thành kẻ lao đao, lận đận giữa đời.
-Thân cư Quan Lộc hội sát diệu Triệt Tuần, nữ Mệnh nan bảo thân danh. Gia kiếnTang Bạch cô thân chi nhảnh, chi gia vãn tuế tất thành.
Cónghĩa: Nữ nhân Thân cư Quan Loock, ngộ Triệt, Tuần và sát tinh là người khó bảotoàn được danh tiết. Nếu lại gặp 2 sao Tang Môn, Bách Hổ tất bị phòng loan gốichiếc, phải đến tuổi xế chiều mới thành được gia thất.
Cónghĩa: Nhật Nguyệt đồng cung tại Sửu Mùi là thế hỗn độn, nếu gặp được KhôngVong (Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không) sẽ tạo thành một cách đẹp, nếu thêmcả Hóa Kỵ nữa thì thật là một kỳ cách.
-Thân hội Di cung, Triệt Tuần hãm nhập, vãn tuế hồi hương phương cát. Nhược hữukiến sát tinh, sự nghiệp viên thành ư ngoại xứ.
Cónghĩa: Người có Thân cư cung Thiên Di gặp Tuần, Triệt hãm địa, tất phải thahương lập nghiệp cho tới khi tuổi già mới được về quê và hưởng phúc lộc dồidào. Nhưng nếu Di cung lại bị sát tinh củng chiếu thì chỉ có thể thành cơnghiệp nơi đất khách quê người.
Cónghĩa: Cơ Lương ở Thìn Tuất là rất đẹp nhưng nếu Mệnh ở đấy mà gặp một trongcác sao Không (Tuần, Triệt, Địa Không, Thiên Không) thì lại là người thất chí,dễ chán đời đi tu.
Cónghĩa: Mệnh hoặc cung Tật Ách có Nhật, Nguyệt gặp Không Vong (Tuần, Triệt,Thiên Không, Địa Không), tất phải mang tật lưng vẹo, mắt hư.
Khicoi số, người luận giải sợ nhất trường hợp các cung cường gặp Tuần, Triệt ánngữ bởi lẽ lý thuyết Tử Vi về Tuần, Triệt còn nhiều mơ hồ, chưa có sự thốngnhất (thậm chí còn nhiều nghi vấn, nhiều tranh cãi gay gắt)… để làm căn cứ choviệc xem số nên lời luận giải đưa ra thường thiếu cơ sở để khẳng định. Vì thế,người học Tử Vi, người muốn tìm hiểu về Tử Vi đều bất lực trong nhiều trườnghợp khi gặp Tuần, Triệt án ngữ, quy tụ lại bởi một số nghi vấn sau:
Theolý thuyết thì Tuần, Triệt sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới các sao đồng cung: Biếntốt thành kém tốt, biến xấu thành bớt xấu nhưng thực tế thì có những trường hợpchỉ chính tinh bị ảnh hưởng còn phụ tinh lại không bị tác động bởi Tuần, Triệthoặc phụ tinh bị đảo nghĩa khi gặp Tuần, Triệt trong khi chính tinh lại khôngthay đổi về cường độ, hoặc chỉ một số tinh đẩu bị đảo nghĩa chứ không hẳn tấtcả các tinh đẩu đồng cung đều chịu sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt…
Đểtrả lời cho câu hỏi này, chưa có sách Tử Vi nào đề cập đến nên sự luận giải đôikhi trở nên mơ hồ, võ đoán.
Vềvấn đề này vẫn còn nhiều tranh cãi, chưa có sự thống nhất hoặc quan điểm vẫncòn mơ hồ, không cụ thể.
Quan điểm thứ nhất cho rằng: Tuần, Triệt chỉảnh hưởng tới các sao đồng cung chứ không đủ sức để ảnh hưởng tới các sao ở cáccung xung chiếu, tam hợp chiếu.
Quanđiểm thứ hai cho rằng: Tuần, Triệt không những ảnh hưởng trực tiếp tới các saođồng cung mà còn ảnh hưởng gián tiếp tới các sao ở các cung khác như xungchiếu, tam hợp chiếu… nhưng lại không chỉ ra sự ảnh hưởng gián tiếp ấy cụ thểnhư thế nào? Và đây cũng là điểm mơ hồ cố hữu trong hệ thống lý thuyết của TửVi.
Lýthuyết Tử Vi không đề cập đến sự ảnh hưởng hay khắc chế của các sao khác tớicường độ của Tuần, Triệt như thế nào nên vô hình chung đã đẩy Tuần, Triệt lênvị trí tối quan trọng, cao hơn tất cả các tinh đẩu trong hệ thống các sao củaTử Vi, khiến người coi số như xuống biển mò kim mà trở nên lúng túng, bế tắckhi đưa ra lời luận giải.
Trongthực tế, không phải mọi tinh đẩu đều chịu ảnh hưởng của Tuần, Triệt như nhau:Có sao chịu ảnh hưởng nhiều, có sao chịu ảnh hưởng ít và thậm chí có sao khônghề bị ảnh hưởng … Vậy thì tại sao lại có sự khác biệt đó? Phải chăng do Tuần,Triệt cũng chịu ảnh hưởng của các tinh đẩu khác mà sức ảnh hưởng của Tuần,Triệt mới không đồng đều, không đủ mạnh? Sách Tử Vi không đưa ra lời giải đápkhiến người coi số bị hụt hững, phân vân vì thiếu cơ sở lý thuyết nên dễ đưa ranhững lời luận giải rơi vào ngộ nhận, không chính xác.
Mộtsố nhà nghiên cứu Tử Vi, hoặc những người coi số Tử Vi cho rằng Tuần, Triệtcũng chịu sự ảnh hưởng, tác động của các sao khác như những sao khác nhưngkhông chỉ ra được Tuần, Triệt chịu ảnh hưởng từ các sao khác như thế nào? Nhữngsao nào sẽ vô hại khi gặp Tuần, Triệt, thậm chí còn tác động, làm thay đổicường độ ảnh hưởng của Tuần, Triệt? Đây chính là nghi vấn, dễ gây ra sự ngộnhận khi luận giải lá số.
Chúngta đều biết lý thuyết Tử Vi cho rằng Tuần, Triệt làm thay đổi cường độ ảnhhưởng của các sao chứ không làm thay đổi tính chất của các sao, có nghĩa mộtsao thể hiện sự gian tà, độc ác thì khi gặp Triệt, Tuần sẽ vẫn là kẻ gian tà,độc ác nhưng ở mức độ thấp hơn, nhẹ đi chứ không thể trở thành người nhân hậu,bác ái. Hay một cát tinh khi hãm địa được Tuần, Triệt án ngữ cũng chỉ làm chocát tinh đó tốt hơn lên chứ không thể biến cát tinh hãm địa đó đẹp bằng cáttinh khi đắc địa được.
Chúngta cũng biết lý thuyết Tử Vi chỉ rằng: Tuần, Triệt chỉ gây trục trặc, cản trởcho cung Tuần, Triệt án ngữ chứ không thể làm thay đổi tính chất ngũ hành củacung, càng không làm thay đổi bản chất của cung: Sinh – khắc hay bình hoà vớihành bản Mệnh (Thân)? Phù trợ như thế nào cho Mệnh (Thân)?…Nhưng khi coi số, nếu gặp trường hợp cung an Mệnh ở vào thế lợi địa, tuyệtđịa…mà gặp Tuần, Triệt án ngữ ở đó thì luận giải sao đây? Không thể đưa ra lờikhẳng định nếu cung an Mệnh ở thế lợi địa mà gặp Tuần, Triệt án ngữ sẽ trởthành bại địa, hoặc cung an Mệnh ở thế bại địa khi gặp Tuần, Triệt án ngữ sẽtrở nên vượng địa vì thực tế ngay cả các sao đồng cung Tuần, Triệt còn không đủsức ảnh hưởng đồng đều thì làm sao ảnh hưởng, thay đổi tính chất lợi địa haytuyệt địa của cung an Mệnh được. Hơn nữa, lý thuyết của Tử Vi về Tuần, Triệtcho rằng Tuần, Triệt chỉ gây trục trặc, cản trở một phần, một giai đoạn chocung án ngữ nên càng khó đưa ra lời luận giải cho những trường hợp như thế này.
Đâychính là khó khăn và thách đố với những ai muốn tìm hiểu, ứng dụng kiến thứccủa Tử Vi vào cuộc sống.
Mặcdù lý thuyết Tử Vi cho rằng: Tuần ảnh hưởng nhẹ hơn Triệt và mạnh dần ảnh hưởngsau 30 tuổi, còn Triệt ảnh hưởng mạnh những năm đầu đời và giảm dần hiệu lựcsau 30 tuổi. Nhưng Tử Vi không chỉ ra sự mạnh dần (Tuần) hay giảm dần (Triệt)diến ra như thế nào? Cường độ nặng nhẹ là bao? Nên người coi số rất khó đưa ralời phán đoán. Hơn nữa, những khái niệm về cường độ ảnh hưởng của Tuần, Triệttưởng như rất cụ thể mà lại rất mơ hồ, trừu tượng nên người coi số thật khóluận giải. Chẳng hạn, sách Tử Vi nói: Người Dương nam, Dương nữ khi gặp Tuần,Triệt thì ở cung Dương sẽ chịu 70%, còn cung Âm chịu 30% cường độ, nhưng 100%cường độ được thể hiện như thế nào? Ảnh hưởng ra làm sao? Để qua đó hiểu đượcmức nặng nhẹ của 70% hoặc 30% cường độ thì rất tiếc không thấy sách Tử Vi nàođề cập đến.
Hoặcbàn về sự ảnh hưởng của Tuần, Triệt tới số phận con người cũng nhiều ý kiếntrái chiều, bất nhất.Ví dụ ở người Mệnh Kim, có 3 quan điểm:
-Quan điểm 2: Mệnh Kim vô hại khi gặp Triệt, còn gặp Tuần thì vẫn bị ảnh hưởngnhư các tuổi khác, tuy nhiên cũng không đáng lo ngại lắm.
-Quan điểm 3: Mệnh Kim nên tránh xa Tuần, Triệt vì nếu gặp sẽ thiệt thòi nặnghơn so với các tuổi khác.
Trong3 quan điểm trên thì phần lớn những người coi số Tử Vi đồng nhất với quan điểmthứ nhất: Mệnh Kim không sợ gặp Tuần, Triệt nhưng sự bất nhất về lý thuyết, đặcbiệt khi sự bất nhất đó lại có nội dung đối lập 100% như quan điểm 3 với quanđiểm 1, thì vẫn gây khó khăn, nghi vấn cho người luận giải lá số.
Quanđiểm thứ nhất cho rằng: Tuần, Triệt đồng cung không tháo gỡ nhau mà cộng hưởngcả mặt tốt, mặt xấu và ảnh hưởng sâu rộng hơn tới cuộc đời của đương số.
Quanđiểm thứ hai lại cho Tuần, Triệt tháo gỡ nhau nếu khi đồng cung, làm giảm cáixấu và tăng cái tốt cho đương số.
Mặcdù quan điểm thứ nhất là quan điểm của số đông, được nhiều người chấp nhận vìtính thực tiễn nhưng sự không đồng nhất về quan điểm như thế trong hệ thống lýthuyết của Tử Vi sẽ gây khó khăn rất lớn cho người tiếp cận.
Tuần- Triệt là hai sao còn rất nhiều nghi vấn về giá trị, phạm vi và mức độ ảnhhưởng tới số phận con người mà người nghiên cứu Tử Vi khó tìm được câu trả lờithỏa đáng, càng đặc biệt và thách đố với những người muốn ứng dụng kiến thức TửVi vào cuộc sống.
Khibiên soạn về ảnh hưởng của Tuần – Triệt tới lá số (cung, sao), người viết rấtbăn khoăn, lo lắng vì kiến thức và kinh nghiệm về Tử Vi của người viết chỉ ởmức mày mò tự học trong khi môn học Tử Vi đòi hỏi người tiếp cận phải có kiếnthức uyên bác về Dịch lý, về Âm – Dương Ngũ hành… mới có thể truyền tải đượcnhững cốt lõi mà linh hoạt và thỏa đáng về hiệu lực của Tuần, Triệt nên nhữngkiến giải của người viết trong bài sẽ không tránh khỏi sự phiến diện, chủ quanvà nông cạn, khiến những bậc cao minh sẽ cau mày vì phải đọc những kiến giải“ngây ngô” của kẻ “ếch ngồi đáy giếng”…
Dùthế nào thì người viết vẫn hy vọng bằng những cố gắng của mình sẽ giúp ích ítnhiều cho những ai lần đầu làm quen và tiếp cận với kiến thức mênh mông mà tinhtế, linh hoạt đến phức tạp… của khoa Tử Vi sẽ bớt khó khăn và thời gian tìmhiểu.
4. Thiên Phủ kỵ gặp Tuần hơn gặp Triệt, vì gặp Tuần ví như kho trống không, trongkhi gặp Triệt thì chỉ bị hao hụt. Thiên Khôi kỵ gặp Triệt hơn gặp Tuần nhưngcần phối hợp những yếu tố khác khi luận đoán sự tốt xấu của cung đó. 5. Bộ Cự Nhật ở Dần gặp Tuần, Triệt không sợ, vì bản thân Thái Dương miếu vượng ítngại Tuần, Triệt, trong khi đó Cự Môn vượng lại rất cần gặp Tuần, Triệt để choCự Môn được ánh sáng của Thái Dương chiếu vào mà tỏa sáng ( Tuần Triệt như sấmsét làm vỡ đá ra ). BộNhật Lương gặp Tuần, Triệt cũng không đáng ngại lắm, tuy nhiên khi gặp Tuần, Triệt rất cần có Tả Hữu Xương Khúc phù trì thì mới vượt qua được sự ngăn cản pháhoại của Tuần, Triệt. BộÂn Quang Thiên Quý đồng cung ( Sửu, Mùi ) chiếu về Mệnh hoặc thủ Mệnh thì Tuần, Triệt không còn tính năng nữa, chỉ là sự cản trở nho nhỏ không đáng kể. 6. Tuần, Triệt đứng bất kể đâu nếu bản Mệnh là hành kim thì không đáng ngại ( hànhHoả cũng đỡ hơn, nếu Triệt lâm Hỏa địa ). Ví dụ mệnh gặp Thiên Tướng + TuầnTriệt án ngữ rất xấu xa mờ ám chủ tai nạn đáng tiếc hình thương nhưng nếu bản Mệnh thuộcKim thì không đáng ngại những nguy hại do Tuần, Triệt gây ra. 7. Tuần, Triệt giải họa Không Kiếp hãm rất mạnh, họa tuy có xảy ra nhưng cũng quađược. Triệt tại bản cung thì không sợ tai ương do Không Kiếp chiếu về. Tuần cũngcó tính năng như vậy nhưng yếu hơn. 8. Mệnh Tuần hay Triệt thì khi đến đại hạn gặp Tuần hay Triệt sẽ tháo dỡ ảnh hưởngcủa Tuần hay Triệt. Tuần, Triệt đồng cung tại tiểu hạn gặp Lưu Tuần, Triệt thì tác động ảnh hưởng của Tuần, Triệtđồng cung sẽ giảm đi. Triệttại tiểu hạn gặp Lưu Triệt thì ảnh hưởng tác động của Triệt tăng lên, Tuần tại tiểu hạngặp Lưu Tuần thì tác động ảnh hưởng của Tuần giảm đi. Cónghĩa : Cung Mệnh có Triệt án ngữ, cung Thân cũng ngộ Tuần thì không nên cóchính diệu mới được xứng ý toại lòng, về già mới được an nhàn, sung sướng vàtăng thêm tuổi thọ. Cónghĩa : Mệnh có Tuần án ngữ, Thân có Triệt trấn thủ, lại vô chính diệu, rất mừnggặp được văn tinh như Khôi, Việt, Xương, Khúc, Long, Phượng, gặp như vậy làngười có văn tài, học vấn và khi đứng tuổi tất sẽ được an nhàn, phong phú. Cónghĩa : Mệnh có Tuần, Thân có Triệt án ngữ, rất cần có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lươngsáng sủa, tốt đẹp hội họp thì cuộc sống mới được xứng ý toại lòng, nhất là khivề già mới được an nhàn, sung sướng. Cónghĩa : Cung Phúc đức vô chính diệu rất cần có sao Tuần án ngữ nhưng lại rất kỵsao Triệt trấn đóng. Cónghĩa : Cung Phúc đức cư tại Tý, có những sao Đồng, Nguyệt, Kiếp, Tử gặp Tuần, Triệt thì đương số là người có học nhưng bất thành danh và là người bất chính, thường là người đa hư tiểu thực, nghèo hèn và chết non. Cónghĩa : Cung Thân cư Phúc vô chính diệu mà gặp những sao Kiếp, Kình, Triệt, Sátthì rất lo lắng. Nhưng nếu gặp được Đà La, Tuần lại hay, ví như hai vị cứu khổphò nguy, giải tỏa được những tai biến. Cónghĩa : Tử Phủ lâm Mệnh tại Dần, Thân là 2 sao giải cứu được hung nguy khi đáonhị hạn. Nhưng nếu bị Tuần Không án ngữ, ví như 2 ông vua bị mất hết quyền hànhnên không giảm thiểu được tai kiếp khi hạn ngộ sát tinh, cũng như trường hợp TửVi đóng ở cung Tý vậy. Cónghĩa : Cung Mệnh dù có tứ sát, tứ hung, lục bại đi nữa, nhưng nếu được Triệt ánngữ tại bản cung cũng không e sợ lũ sát tinh hoành hành vì sao Triệt đủ ảnhhưởng khắc chế được mọi hung nguy. – Thân cư Thê vị, Tuần Triệt lai xâm, thiếu niên ai lệ nãi thất tình. Nhược giacát tú, lương duyên mãn kiếp dữ phụ nhân. Cónghĩa : Thân cư Thê mà bị Tuần, Triệt xâm phạm tất là người tuổi thiếu niên bịtình phụ mà nước mắt buồn rơi khi nhớ tới người xưa. Nếu gia hội cát tinh cũngđược mãn kiếp xum vầy với người góa phụ. Cónghĩa : Cung Mệnh an tại Tý, 2 sao Tử Vi hay Cự Môn nếu hội với những sao Kiếp, Kình, Suy, Triệt là người phải chết bởi tai nạn thương tâm nhưng khi chết rồi thể xác vẫnphải bị phẫu thuật. – Thân cư Quan, kiến Triệt Tuần Kiếp Kỵ nam nhân phong vân vị tế, hựu phùng cátdiệu, vũ lộ thừa ân, khả đãi vãn niên dĩ hậu. Cónghĩa : Nam nhân có Thân cư Quan, nếu gặp Triệt, Tuần, Kiếp, Kỵ đồng cung, tấtphải lận đận, dạt dẹo thủa thiếu thời vì không gặp thời cơ. Nếu như được cáttinh củng chiếu, cũng phải đợi tới vãn niên mới được hưởng phúc lộc và tạothành cơ nghiệp. Cónghĩa : Thiên tướng nếu hội họp không thiếu với 2 loại sao là sắc ( Đào, Hồng, Hỷ ) vàKhông ( Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không ) là người ví như kẻ lạc giữa bụitrần nhơ nhuốc mà tâm tư nguyện vọng trong sáng, thường có duyên với cảnh tu hành. Cónghĩa : Thiên Phủ, Thiên Tướng là quý tinh, cư Mệnh rất đẹp, nếu độc thủ cũngkhông đáng lo lắng lắm khi gặp lũ Kình, Đà, Hỏa, Linh vì tính dung hòa của 2 quý tinh này. Nhưng nếu Phủ, Tướng ở cung âm, gặp Tuần, Triệt ( Thiên Không, ĐịaKhông cũng vậy ) thì cách đẹp bị phá hết, thành kẻ lao đao, lận đận giữa đời. – Thân cư Quan Lộc hội sát diệu Triệt Tuần, nữ Mệnh nan bảo thân danh. Gia kiếnTang Bạch cô thân chi nhảnh, chi gia vãn tuế tất thành. Cónghĩa : Nữ nhân Thân cư Quan Loock, ngộ Triệt, Tuần và sát tinh là người khó bảotoàn được danh tiết. Nếu lại gặp 2 sao Tang Môn, Bách Hổ tất bị phòng loan gốichiếc, phải đến tuổi xế chiều mới thành được gia thất. Cónghĩa : Nhật Nguyệt đồng cung tại Sửu Mùi là thế hỗn độn, nếu gặp được KhôngVong ( Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không ) sẽ tạo thành một cách đẹp, nếu thêmcả Hóa Kỵ nữa thì thật là một kỳ cách. – Thân hội Di cung, Triệt Tuần hãm nhập, vãn tuế hồi hương phương cát. Nhược hữukiến sát tinh, sự nghiệp viên thành ư ngoại xứ. Cónghĩa : Người có Thân cư cung Thiên Di gặp Tuần, Triệt hãm địa, tất phải thahương lập nghiệp cho tới khi tuổi già mới được về quê và hưởng phúc lộc dồidào. Nhưng nếu Di cung lại bị sát tinh củng chiếu thì chỉ hoàn toàn có thể thành cơnghiệp nơi đất khách quê người. Cónghĩa : Cơ Lương ở Thìn Tuất là rất đẹp nhưng nếu Mệnh ở đấy mà gặp một trongcác sao Không ( Tuần, Triệt, Địa Không, Thiên Không ) thì lại là người thất chí, dễ chán đời đi tu. Cónghĩa : Mệnh hoặc cung Tật Ách có Nhật, Nguyệt gặp Không Vong ( Tuần, Triệt, Thiên Không, Địa Không ), tất phải mang tật sống lưng vẹo, mắt hư. Khicoi số, người luận giải sợ nhất trường hợp những cung cường gặp Tuần, Triệt ánngữ bởi lẽ triết lý Tử Vi về Tuần, Triệt còn nhiều mơ hồ, chưa có sự thốngnhất ( thậm chí còn còn nhiều nghi vấn, nhiều tranh cãi nóng bức ) … để làm địa thế căn cứ choviệc xem số nên lời luận giải đưa ra thường thiếu cơ sở để khẳng định chắc chắn. Vì thế, người học Tử Vi, người muốn khám phá về Tử Vi đều bất lực trong nhiều trườnghợp khi gặp Tuần, Triệt án ngữ, quy tụ lại bởi 1 số ít nghi vấn sau : Theolý thuyết thì Tuần, Triệt sẽ ảnh hưởng tác động trực tiếp tới những sao đồng cung : Biếntốt thành kém tốt, biến xấu thành bớt xấu nhưng thực tiễn thì có những trường hợpchỉ chính tinh bị tác động ảnh hưởng còn phụ tinh lại không bị ảnh hưởng tác động bởi Tuần, Triệthoặc phụ tinh bị hòn đảo nghĩa khi gặp Tuần, Triệt trong khi chính tinh lại khôngthay đổi về cường độ, hoặc chỉ một số ít tinh đẩu bị hòn đảo nghĩa chứ không hẳn tấtcả những tinh đẩu đồng cung đều chịu sự tác động ảnh hưởng của Tuần, Triệt … Đểtrả lời cho câu hỏi này, chưa có sách Tử Vi nào đề cập đến nên sự luận giải đôikhi trở nên mơ hồ, võ đoán. Vềvấn đề này vẫn còn nhiều tranh cãi, chưa có sự thống nhất hoặc quan điểm vẫncòn mơ hồ, không đơn cử. Quan điểm thứ nhất cho rằng : Tuần, Triệt chỉảnh hưởng tới những sao đồng cung chứ không đủ sức để tác động ảnh hưởng tới những sao ở cáccung xung chiếu, tam hợp chiếu. Quanđiểm thứ hai cho rằng : Tuần, Triệt không những tác động ảnh hưởng trực tiếp tới những saođồng cung mà còn tác động ảnh hưởng gián tiếp tới những sao ở những cung khác như xungchiếu, tam hợp chiếu … nhưng lại không chỉ ra sự tác động ảnh hưởng gián tiếp ấy cụ thểnhư thế nào ? Và đây cũng là điểm mơ hồ cố hữu trong hệ thống lý thuyết của TửVi. Lýthuyết Tử Vi không đề cập đến sự ảnh hưởng tác động hay khắc chế của những sao khác tớicường độ của Tuần, Triệt như thế nào nên vô hình dung chung đã đẩy Tuần, Triệt lênvị trí tối quan trọng, cao hơn tổng thể những tinh đẩu trong mạng lưới hệ thống những sao củaTử Vi, khiến người coi số như xuống biển mò kim mà trở nên lúng túng, bế tắckhi đưa ra lời luận giải. Trongthực tế, không phải mọi tinh đẩu đều chịu tác động ảnh hưởng của Tuần, Triệt như nhau : Có sao chịu tác động ảnh hưởng nhiều, có sao chịu ảnh hưởng tác động ít và thậm chí còn có sao khônghề bị tác động ảnh hưởng … Vậy thì tại sao lại có sự độc lạ đó ? Phải chăng do Tuần, Triệt cũng chịu tác động ảnh hưởng của những tinh đẩu khác mà sức tác động ảnh hưởng của Tuần, Triệt mới không đồng đều, không đủ mạnh ? Sách Tử Vi không đưa ra giải thuật đápkhiến người coi số bị hụt hững, phân vân vì thiếu cơ sở kim chỉ nan nên dễ đưa ranhững lời luận giải rơi vào ngộ nhận, không đúng mực. Mộtsố nhà nghiên cứu Tử Vi, hoặc những người coi số Tử Vi cho rằng Tuần, Triệtcũng chịu sự tác động ảnh hưởng, ảnh hưởng tác động của những sao khác như những sao khác nhưngkhông chỉ ra được Tuần, Triệt chịu tác động ảnh hưởng từ những sao khác như thế nào ? Nhữngsao nào sẽ vô hại khi gặp Tuần, Triệt, thậm chí còn còn tác động ảnh hưởng, làm thay đổicường độ ảnh hưởng tác động của Tuần, Triệt ? Đây chính là nghi vấn, dễ gây ra sự ngộnhận khi luận giải lá số. Chúngta đều biết kim chỉ nan Tử Vi cho rằng Tuần, Triệt làm biến hóa cường độ ảnhhưởng của những sao chứ không làm biến hóa đặc thù của những sao, có nghĩa mộtsao biểu lộ sự gian tà, gian ác thì khi gặp Triệt, Tuần sẽ vẫn là kẻ gian tà, gian ác nhưng ở mức độ thấp hơn, nhẹ đi chứ không hề trở thành người nhân hậu, bác ái. Hay một cát tinh khi hãm địa được Tuần, Triệt án ngữ cũng chỉ làm chocát tinh đó tốt hơn lên chứ không hề biến cát tinh hãm địa đó đẹp bằng cáttinh khi đắc địa được. Chúngta cũng biết triết lý Tử Vi chỉ rằng : Tuần, Triệt chỉ gây trục trặc, cản trởcho cung Tuần, Triệt án ngữ chứ không hề làm biến hóa đặc thù ngũ hành củacung, càng không làm đổi khác thực chất của cung : Sinh – khắc hay bình hoà vớihành bản Mệnh ( Thân ) ? Phù trợ như thế nào cho Mệnh ( Thân ) ? …

Mời Bạn Đánh Giá