Dân tộc Bru – Vân Kiều – Địa Ốc Thông Thái

Trong bài viết này, những bạn hãy cùng Địa Ốc Thông Thái tìm hiểu và khám phá một cách chi tiết cụ thể về dân tộc bản địa Bru – Vân Kiều nhé. Các nội dung gồm có phong tục tập quán, hoạt động giải trí sản xuất, văn hóa truyền thống, phục trang, tổ chức triển khai hội đồng, tập tục cưới xin, sinh đẻ, ma chay của người Bru – Vân Kiều .

Tổng quan về người Bru – Vân Kiều

  • Tên gọi khác: Bru, Vân Kiều, Mang Cong, Trì, Khùa.
  • Ngôn ngữ: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn- Khơ Me (ngữ hệ Nam Á), gần gũi với Tiếng Tà Ôi, Cơ Tu. Chữ viết mới hình thành theo cách phiên âm bằng chữ cái Latinh. Giữa các nhóm có một số từ vựng không giống nhau.
  • Dân số: 94.598 người (Tổng điều tra dân số 2019).
  • Cư trú: Cư trú tập trung ở miền núi các tỉnh Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên-Huế.
  • Lịch sử: Họ thuộc số dân cư được coi là có nguồn gốc lâu đời nhất ở vùng Trường Sơn.

Trang phục truyền thống dân tộc Bru - Vân KiềuHình ảnh dân tộc Bru – Vân Kiều trong trang phục truyền thống. Tác giả: Nguyễn Minh Ngọc.

Trang phục truyền thống cuội nguồn của dân tộc bản địa Bru – Vân Kiều

Khố – Aáo – Váy. Với đặc thù áo nữ xẻ ngực màu chàm đen và hàng sắt kẽm kim loại bạc tròn đính ở mép cổ và hai bên nẹp áo. Váy trang trí theo những mảng lớn trong bố cục tổng quan dải ngang .

Trang phục nam

Nam để tóc dài, búi tóc, ở trần, đóng khố. Trước đây thường lấy vỏ cây sui làm khố, áo .

Trang phục nữ

Gái chưa chồng búi tóc về bên trái, sau khi lấy chồng búi tóc trên đỉnh đầu. Trước đây phụ nữ ở trần, mặc váy. Váy trước đây không dài thường qua gối 20-25 cm. Có nhóm mặc áo chui đầu, không tay, cổ khoét hình tròn hoặc vuông. Có nhóm nữ đội khăn bằng vải quấn thành nhiều vòng trên đầu rồi thả sau gáy, cổ đeo hạt cườm, mặc áo cánh xẻ ngực, dài tay màu chàm cổ và hai nẹp trước áo có đính các ‘đồng tiền’ bạc nhỏ màu sáng, nổi bật trên nền chàm đen tạo nên một cá tính về phong cách thẩm mỹ riêng trong diện mạo trang phục các dân tộc Việt Nam.

Nhà của người Bru – Vân Kiều

Người Bru-Vân Kiều ở nhà sàn nhỏ, tương thích với quy mô mái ấm gia đình thường gồm cha, mẹ và những con chưa lập mái ấm gia đình riêng. Nếu ở gần bờ sông, suối, những nhà trong làng tập trung chuyên sâu thành một khu trải dọc theo dòng chảy. Nếu ở chỗ phẳng phiu thoáng đãng, những ngôi nhà trong làng xếp thành vòng tròn hay hình bầu dục, ở giữa là nhà công cộng. Ngày nay làng của đồng bào ở nhiều nơi đã có khuynh hướng ở nhà trệt .

Hoạt động sản xuất – kinh tế tài chính

Canh tác rẫy, trồng lúa là chính ; nông cụ đơn thuần : rìu, dao quắm, gậy trỉa, cái nạo cỏ có lưỡi cong. Cách thức sản xuất : phát rừng, đốt, rồi chọc lỗ gieo hạt giống, làm cỏ, tuốt lúa bằng tay ; đa canh – xen canh trên từng đám rẫy lê dài hàng năm từ tháng 3 đến tháng 10. Ngoài trồng những giống lúa tẻ, nếp, còn trồng sắn, bầu, chuối, cà, dứa, khoai mía v.v … Rừng và sông suối cung ứng nhiều thức ăn cùng nguồn lợi khác. Chăn nuôi trâu ( về sau có cả bò ), lợn, gà, chó là phổ cập .
Nghề bằng tay thủ công không tăng trưởng. Quan hệ trao đổi hàng hoá hầu hết với người Việt và người Lào .

Phương tiện luân chuyển

Người Bru-Vân Kiều dùng những loại gùi, đeo gùi sau sống lưng, 2 quai gùi quàng vào đôi vai. Chiếc gùi gắn bó khăng khít với mỗi người như hình với bóng, là đồ vật vận tải đường bộ đa năng .

Quan hệ xã hội

Dân làng thuộc những dòng họ khác nhau, cùng sinh sống trên một địa vực, trong đó đất trồng trọt thuộc về từng mái ấm gia đình, kể cả khi bỏ hoá. Người “ già làng ” có vai trò quan trọng so với đời sống của làng. Sự giàu-nghèo hình thành, nhưng hầu hết những hộ trong làng tương đối độc lạ nhau. Tài sản được xác lập bằng chiêng, cồng, ché, nồi đồng, trâu v.v …
Hiện tượng người bóc lột người không thông dụng .

Văn hóa thẩm mỹ và nghệ thuật

Người Bru-Vân Kiều yêu văn nghệ và có vốn văn nghệ truyền thống quý báu. Người Bru-Vân Kiều có nhiều truyện cổ được truyền miệng, kể về sự tích những dòng họ, nguồn gốc dân tộc bản địa, về đề tài người mồ côi v.v … Có những điệu hát như : Oát là loại hát đối đáp giao duyên. Prdoak là hát chúc vui, chúc tụng khi có việc mừng. Xươt là hát vui trong những hoạt động và sinh hoạt vui đùa đông người. Roai tol, Roai trong là loại hát kể lể nặng nề, oán trách. Adâng kon là hát ru trẻ con. Trong đám ma và liên hoan đâm trâu thường có múa tích hợp với hát. Nhạc cụ thông dụng là : cồng, chiêng, đàn Achung, Plư, Ta-lư, kèn Amam, Ta-ral, khèn Pi, nhị, đàn môi, trống, sáo …

Văn hóa ẩm thực – món ăn tiêu biểu vượt trội

Người Bru-Vân Kiều thích những món nướng. Canh thường nấu lẫn rau với gạo và cá hoặc ếch nhái. Họ ăn cơm tẻ thường ngày ; khi liên hoan, cơm nếp nấu trong ống tre tươi ; quen ăn bốc, uống nước lã, rượu cần ( nay rượu cất là thông dụng ). Nam nữ đều hút thuốc lá, tẩu bằng đất sét hoặc làm từ cây le .

Phong tục hôn nhân gia đình của người Bru – Vân Kiều

Con trai, con gái Bru-Vân Kiều được tự do yêu nhau và cha mẹ thường tôn trọng sự lựa chọn bạn đời tri kỷ của con. Trong lễ cưới của người Bru-Vân Kiều, khi nào cũng có một thanh kiếm nhà trai trao cho nhà gái. Cô dâu khi về nhà chồng thường trải qua nhiều nghi lễ phức tạp : bắc nhà bếp, rửa chân, ăn cơm chung với chồng … Trong họ hàng, ông cậu có quyền quyết định hành động khá lớn so với việc lấy vợ, lấy chồng cũng như khi làm nhà, cúng quải của những cháu .

Phong tục cưới hỏi của người Bru – Vân Kiều

Cô dâu về ở đằng nhà chồng, nhà trai tổ chức triển khai cưới vợ cho con và phải biếu đồ sính lễ cho nhà gái, trong đó có thanh kiếm và thường cả chiếc nồi đồng nữa. Sau lễ cưới, đôi vợ chồng còn phải làm “ lễ cưới ” lần thứ 2 khi có điều kiện kèm theo về kinh tế tài chính, gọi là lễ Khơi, để người vợ chính thức được coi là thành viên dòng họ nhà chồng .
Theo tục lệ, việc con trai cô lấy con gái cậu được khuyến khích, việc kết hôn giữa vợ goá với anh hoặc em chồng cũng như giữa chồng goá với chị hoặc em vợ đều được chấp thuận đồng ý và khi dòng họ A đã gả con gái cho dòng họ B thì dòng họ B không gả con gái cho dòng họ A nữa .

Tục sinh đẻ của người Bru – Vân Kiều

Phụ nữ khi mang thai kiêng ăn thịt những con vật sa bẫy, không bước qua cây nằm ngang đường v.v … Họ đẻ con tại nhà, có bà mụ vườn đỡ đẻ. Trẻ sơ sinh được đặt tên sau vai ba tháng, phải tránh trùng với tên của người đã khuất trong dòng họ, nhưng thường những tên trong nhà được đặt cùng vần nhau .

Phong tục tang ma của người Bru – Vân Kiều

Tử thi ở nhóm Vân Kiều được đặt năm ngang sàn nhà, chân hướng về phía cửa sổ, ở các nhóm Khùa và Ma Coong thì tử thi được đặt dọc sàn, chân hướng về phía cửa chính. Sau 2-3 ngày mới đưa ma, chôn người chết vào bãi mộ chung của làng.

Quan tài gỗ đẽo độc mộc, gồm hòm và nắp ; xưa kia có nơi người chết được bó trong vỏ cây hoặc tấm đan bằng giang, nứa. Chọn đất đào huyệt theo cách dùng trứng gà thả rơi, vỡ trứng là được. Tang gia trước khi mai táng mỗi ngày cúng cơm đặt thức ăn vào miệng tử thi 3 lần ( sáng, trưa, tối ), khi chôn cất phải dành phần cho người chết nhiều thứ từ đồ mặc đến đồ vật thường thì và cả giống mía, ngô, khoai môn, v.v …




Phong tục thờ cúng của người Bru – Vân Kiều

Người Bru-Vân Kiều chú trọng thờ cúng tổ tiên. Theo họ, hiện thân của “ linh hồn ” những thân nhân quá cố là những mảnh nồi, mảnh bát v.v … đặt trong chòi nhỏ dựng riêng. Có nơi thờ cúng cả thần bản mệnh : mỗi người trong mái ấm gia đình có một chiếc bát đặt chung trên bàn thờ cúng tại nhà. Người ta rất tin và những “ thần linh ” ( Yang ) : thần lúa, thần nhà bếp lửa, thần núi, thần đất, thần sông nước v.v … Ma mái ấm gia đình đằng vợ ( Yang cu gia ) cũng được con rể thờ cúng .

Phong tục ngày tết

Người Bru-Vân Kiều có nhiều lễ cúng khác nhau trong quy trình canh tác lúa rẫy nhằm mục đích cầu mùa, gắn với những khâu, phát, trỉa và thu hoạch. Ðặc biệt lễ thức trước dịp trỉa lúa diễn ra như một ngày hội của dân làng. Trong một đời người, mỗi người cũng có hàng loạt nghi lễ cúng quải về bản thân mình : khi sinh ra, lúc đau ốm, khi qua đời, lúc thành hôn v.v … Lễ cúng có đâm trâu là lễ trọng nhất. Tết đến từng làng sớm muộn khác nhau, nhưng đều vào thời hạn sau kỳ tuốt lúa .

Lịch của người Bru – Vân Kiều

Họ địa thế căn cứ vào mặt trăng để định ra những ngày và tên ngày trong tháng. Quan niệm có những ngày tốt ( nhất là mùng 4, 7, 9 ) và những ngày xấu ( nhất là 30 và mùng 1 ). Mỗi năm, lịch nông nghiệp Bru-Vân Kiều gồm 10 tháng, tiếp đến thời kỳ nghỉ ngơi, chơi bời trước khi bước vào mùa rẫy mới .

Để lại nhìn nhận của bạn

Mời Bạn Đánh Giá