Lang Chánh – Wikipedia tiếng Việt

Lang Chánh là một huyện miền núi nằm ở phía tây tỉnh Thanh Hóa, Việt Nam.

Vị trí địa lý[sửa|sửa mã nguồn]

Huyện Lang Chánh nằm ở phía tây tỉnh Thanh Hóa, có vị trí địa lý :

  • Phía đông giáp huyện Ngọc Lặc
  • Phía tây giáp huyện Quan Sơn và nước Lào
  • Phía nam giáp huyện Thường Xuân
  • Phía bắc giáp huyện Bá Thước.

Huyện có diện tích quy hoạnh : 585,92 km² và dân số trung bình năm 2018 là 50.120 người, tỉ lệ sinh là 17,3 ‰ ; tỉ lệ chết 4,9 ‰ ; tỉ suất tăng tự nhiên là 12,4 ‰ trong đó tỉ lệ phụ nữ sinh con thứ 3 là 1,32 ‰. Mật độ dấn số trung bình là 85 người / km². Lang Chánh có những dân tộc bản địa : Thái ( 53 % ), Mường ( 33 % ), Kinh ( 14 % ) Người dân Lang Chánh có truyền thống lịch sử đoàn kết, yêu nước, siêng năng lao động. Tuy nhiên trình độ văn hoá khoa học kỹ thuật còn thấp. Tỷ lệ lao động đã qua đào tạo và giảng dạy ( Từ sơ cấp trở lên ) mới đạt 14 % tổng số lao động .

Lang Chánh có địa hình đa dạng và phức tạp với độ cao tăng dần từ 400-500 ở phía đông lên tới 700–900 m ở phía tây. Đỉnh cao nhất là núi Bù Rinh cao 1.291 m (Nơi Lê Lợi bị bao vây và Lê Lai đã liều mình cứu chúa). Độ dốc trung bình từ 20-30°, có nơi tới 40–50°. Lang Chánh có hệ đất feralit với các loại sau: Đất fe ralit phát triển trên đá macma base và trung tính, đất feralit phát triển trên đá macma chua, có mùn vàng đỏ trên núi, đất feralit phát triển trên đá trầm tích và biến chất. Ngoài ra còn có đất dốc tụ và đất lầy thụt, phân bố ở vùng thấp bị ngập nước. Nhờ thủy lợi hoá có thể trồng lúa.

Khí hậu của Lang Chánh nhìn chung không quá nóng, mưa nhiều, lắm sương mù ( trung bình mỗi năm có tới 70-80 ngày sương mù ), mùa đông lạnh và tương đối khô, biên độ nhiệt tương đối lớn. Thiên tai cần đề phòng là rét đậm, lũ, sương muối, sương giá. Khí hậu có sự khác nhau giữa phía đông và phía tây. Phía đông có tổng nhiệt độ năm là 7.500 – 8.000 °C, lượng mưa trung bình năm là 2.200 mm ( có nơi 2.500 mm ) ; mùa mưa lê dài 6 – 7 tháng, mở màn từ giữa tháng tư và kết thúc vào cuối tháng mười. Hàng năm có 20 – 25 ngày có giá tây khô nóng .

Tài nguyên vạn vật thiên nhiên[sửa|sửa mã nguồn]

Tài nguyên nước rất phòng phú với ba con sông lớn là : Sông Cảy, sông Sạo, sông Âm. Thác Ma Hao là thác lớn nhất của sông Cảy có tiềm năng tăng trưởng thuỷ điện và du lịch sinh thái xanh, rừng cây cung ứng nước ngọt và thực phẩm cho đồng bào những dân tộc bản địa, là con đường luân chuyển lâm sản về đồng bằng ngoài những còn có nguồn nước ngầm phong phú và đa dạng .Tài nguyên rừng Lang Chánh lúc bấy giờ có 11.632 ha rừng tự nhiên và 9.732 ha rừng trồng. Độ bao trùm là 72 %. Rừng Lang Chánh có nhiều loại gỗ quý như lim, lát hoa, pơ mu, dổi, vàng tâm, luồng, tre nứa và có nhiều dược liệu quý như quế, xa nhân, nấm hương, trầm hương, … cùng 1 số ít loại động vật hoang dã quý và hiếm : lợn rừng, khỉ v.v.

Về khoáng sản có mỏ đất sét dùng sản xuất gạch chịu lửa ở Làng En (xã Trí Nang); mỏ đồng ở xã Trí Nang; mỏ đá granit chất lượng cao, trữ lượng lớn ở rặng núi Bù Rinh. Bước đầu, các nhà khoa học xác định mỏ có diện tích khoảng 0,5 km², trữ lượng khoảng 660.000 m³. Đây là loại đá có độ bóng độ liên kết khá bền vững, có giá trị kinh tế cao. Nếu khai thác với sản lượng 100.000 m³ sản phẩm/năm, mỏ này có thể khai thác được trên 80 năm[cần dẫn nguồn].

Huyện Lang Chánh có 10 đơn vị chức năng hành chính cấp xã thường trực, gồm có thị xã Lang Chánh ( huyện lỵ ) và 9 xã : Đồng Lương, Giao An, Giao Thiện, Lâm Phú, Tam Văn, Tân Phúc, Trí Nang, Yên Khương, Yên Thắng .
Sau năm 1945, bỏ cấp phủ, châu, gọi chung là huyện. Huyện Lang Chánh khi đó gồm có 11 xã : Đồng Lạc, Giao An, Hợp Phúc, Lâm Dương, Lương Chính, Tam Kỳ, Tân Lập, Trí Năng, Văn Hiến, Vinh Quang và Yên Khương .Năm 1948, hợp nhất hai xã Lâm Dương và Tam Kỳ thành xã Lê Lai ; hợp nhất hai xã Tân Lập và Hợp Phúc thành xã Tân Phúc .Năm 1949, hợp nhất hai xã Đồng Lạc và Lương Chính thành xã Đồng Lương .

Năm 1951, hợp nhất ba xã Trí Nang, Vinh Quang và Văn Hiến thành xã Quyết Thắng.

Ngày 25 tháng 6 năm 1963, chia xã Lê Lai thành 2 xã : Lâm Phú và Tam Văn. [ 2 ]Ngày 13 tháng 4 năm 1966, chia xã Quyết Thắng thành 2 xã : Trí Nang và Quang Hiến. [ 3 ]Ngày 5 tháng 7 năm 1977, hợp nhất huyện Lang Chánh và huyện Ngọc Lặc thành huyện Lương Ngọc. [ 4 ]Ngày 2 tháng 10 năm 1981 [ 5 ] :

  • Chia xã Giao An thành 2 xã: Giao An và xã Giao Thiện
  • Chia xã Yên Khương thành 2 xã: Yên Khương và xã Yên Thắng.

Ngày 30 tháng 8 năm 1982, lại chia tách huyện Lương Ngọc làm thành 2 huyện như cũ. [ 6 ]Ngày 13 tháng 4 năm 1991, xây dựng thị xã Lang Chánh ( thị xã huyện lị huyện Lang Chánh ) trên cơ sở một phần diện tích quy hoạnh và dân số của những xã Quang Hiến và Đồng Lương. [ 7 ]Ngày 1 tháng 12 năm 2019, sáp nhập xã Quang Hiến vào thị xã Lang Chánh. [ 8 ]Từ đó, huyện Lang Chánh có 1 thị xã và 9 xã, giữ không thay đổi cho đến nay .

Quốc lộ 15 chạy qua địa bàn huyện. Lang Chánh là huyện nghèo (một trong 7 huyện nghèo của Thanh Hóa). Lang Chánh là huyện miền núi, nên còn gặp rất nhiều khó khăn.

GDP đầu người : 526 USD / người. Cơ cấu kinh tế tài chính : nông-lâm nghiệp 67 %, công nghiệp 13 %, dịch vụ 20 %. Tỷ lệ hộ nghèo là 27 % .

Mời Bạn Đánh Giá